TRENDING NOW

1. Tác dụng của các yếu tố dinh dưỡng đối với cây bơ

- Đạm (N), kẽm (Zn), B (Bo) là những yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây bơ
- Canxi có vai trò quan trọng hạn chế bệnh rễ và nâng cao chất lượng quả.
- Chú ý phun vi lượng B và Zn để tăng đậu quả và tăng năng suất.
- Bón vừa đủ theo nhu cầu, giảm ô nhiễm môi trường đất, nước.
- Muốn thực hiện bón phân cân đối, cần phải định kỳ chẩn đoán đất và lá.
- Bón vôi tăng cường phẩm chất quả.

2. Nhu cầu dinh dưỡng của cây Bơ

Cây Bơ có thể trồng được trên nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan, tầng canh tác dày, thoát nước tốt, chất hữu cơ cao, độ pH đất thích hợp nhất từ 5 - 6. Phân bón rất quan trọng đối với cây Bơ vì Bơ lấy đi từ đất rất nhiều chất dinh dưỡng. Theo Avilon (1986), sản lượng Bơ là 1.438 kg ha lấy đi khoảng 40kg N, 25kg P2O5, 60kg K2O, 11,2 kg CaO và 9,2kg MgO. Khi Bơ còn non (chưa ra quả) thì nhu cầu về NPK có tỷ lệ 1:1:1 và cây lớn có quả thì tỷ lệ này là 2:1:2. Một chương trình nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây Bơ đã được tiến hành tại Mexico trên các vườn Bơ kinh doanh trồng với mật độ 156 cây ha. Với công thức phân bón 178kg N + 165kgP2O5 + 318kg K2O ha năm, bổ sung thêm vi lượng 0,1kg oxisulphat kẽm (cung cấp S và Zn) và 0,2kg borax cây (cung cấp Bo) 1 - 2 năm 1 lần đã làm năng suất Bơ tăng vọt từ 8 tấn quả ha lên 35 tấn ha. Do vậy, vai trò của các chất trung và vi lượng với cây Bơ là rất lớn và cần phải cung cấp cho cây.
+ Canxi (CaO): Rất cần cho cây tiêu sử dụng, Canxi vừa là nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, vừa là nguyên tố phòng, chống bệnh, cải thiện độ chua của đất tăng khả năng kháng bệnh ở rễ.
+ Magiê (MgO): Có tác dụng khử chua và cải tạo đất như canxi, hơn nữa nó là chất thiết yếu tạo nên diệp lục tố của cây, giúp cây sinh trưởng mạnh mẽ, xanh tốt, trái to, chống chọi tốt với mùa khô hạn tăng khả năng đề kháng cho cây, chống được bệnh nám mặt lá ở cây.
+ Silic (SiO2): Giúp cho cây chống lại sâu bệnh hại, đặc biệt là rệp, tăng khả năng quang hợp.
Lưu huỳnh (S): Thiếu lưu huỳnh sẽ gây ra bệnh bạc lá và làm giảm năng suất, chất lượng Bơ rất rõ. Do đất Tây Nguyên quá thiếu lưu huỳnh nên phải chú ý để cung cấp bổ sung cho cây.
+ Bo (B): Bo là nguyên tố vi lượng rất quan trọng, thiếu Bo là nguyên nhân dẫn đến hoa kém phát triển, sức sống của hạt phấn kém, t lệ đậu quả thấp.

3. Lượng phân bón thúc

2.1. Cơ sở để xác định lượng phân bón thúc

- Đặc điểm, tính chất, độ phì nhiêu của đất.
- Thời vụ gieo trồng.
- Điều kiện đầu tư thâm canh.
- Giống, kỹ thuật canh tác, phương thức gieo trồng.
- Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây trồng.
- Nhu cầu dinh dưỡng qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây Bơ.
- Điều kiện thời tiết khí hậu từng mùa, từng địa phương.
- Đặc điểm, tính chất của các loại phân bón.

2.2. Lượng phân bón thúc

Tỷ lệ N:P:K trong thời kỳ cây chưa mang quả là 1:1:1 và trong thời kỳ mang quả là 2:1:2.
+ Năm trồng mới: bón 0,5 kg cây năm.
+ Năm thứ hai: bón 1 kg cây năm.
+ Năm thứ ba trở đi: bón 1,5 kg cây năm.
Chia lượng phân này thành 3 - 4 phần đều nhau để bón làm 3 - 4 lần năm. Và chỉ bón phân khi đất đủ ẩm.
Bảng: Lượng phân bón cho Bơ thời kỳ kiến thiết cơ bản và kinh doanh
Lượng phân bón cho cây bơ
Hoặc: Lượng phân bón thúc cho từng thời kỳ như sau:
Lượng phân bón cho cây bơ 2

4. Kỹ thuật bón phân

3.1. Bón phân hóa học

- Bước 1: Vận chuyển phân bón tới vườn Bơ: Tính toán đủ lượng phân cần sử dụng, dùng xe kéo chuyên dùng chở phân đến nơi cần bón.
- Bước 2: Trộn phân: Sử dụng tấm bạt hoặc nilon trải ra để trộn các loại phân với nhau để bón cho tiện, tiết kiệm được nhân công trong trường hợp sử dụng nhiều loại phân để bón.
Lưu ý: Trộn phân xong phải sử dụng trước 24 giờ đồng hồ, tránh sự chảy nước và dính kết hỗn hợp.
- Bước 3:
+ Khi bón cần rạch rãnh sâu khoảng 5 - 10cm quanh gốc khi mới trồng và tùy vào mép tán cây khi cây đã phát triển.
+ Bón 2 - 3 đợt vào mùa mưa.
+ Làm sạch cỏ quanh gốc trước khi bón phân.
Rạch rãnh để bón phân
Rạch rãnh để bón phân
+ Rãi phân đều xuống rãnh.
Rải phân xuống rãnh
Rải phân xuống rãnh
+ Lấp đất kín trên phân.
Lấp phân
Lấp phân
- Lưu ý:
+ Không nên vãi phân trên mặt mà không lấp vì đạm dễ bị bốc hơi nếu trời nắng to hoặc bị rửa trôi khi trời mưa.
+ Khi bón đất phải đủ ẩm.
Vãi phân trên mặt cho Bơ kiến thiết cơ bản
Vãi phân trên mặt cho Bơ kiến thiết cơ bản

3.2. Bón phân hữu cơ

- Liều lượng: bón 5 - 10 tấn ha lần. Cứ 2 - 3 năm bón 1 lần hữu cơ.
- Các loại phân hữu cơ thường dùng để bón cho Bơ như phân gia súc, than bùn, phân ủ các dư thừa thực vật, phân xanh, phân chuồng...
  • Ưu điểm
- Tạo chất đệm, ổn định độ chua của đất tăng hiệu quả của việc bón phân vô cơ. - Làm đất tơi xốp, giữ ẩm tốt, tăng độ phì nhiêu.
- Tạo môi trường thuận lợi để vi sinh vật phát triển và hoạt động làm tăng khả năng kháng bệnh đối với cây trồng.
- Chi phí thấp.
  • Hạn chế:
- Hiệu quả chậm;
- Cồng kềnh, tốn công vận chuyển;
- Hàm lượng dưỡng chất thấp, không ổn định, khó kiểm soát.
Để nâng cao hàm lượng dinh dưỡng phân chuồng, nên tận dụng các dư thừa thực vật có sẳn để độn vào phân chuồng và ủ phân trước khi sử dụng.
  • Cách thực hiện:
Các nguyên liệu để độn lót chuồng: Trấu, rơm rạ để độn vô chuồng vừa làm chuồng khô, ấm vừa hút nước tiểu của gia súc để tránh trôi và bốc hơi.
Hiện nay, nông dân chưa tận dụng được các tàn dư thực vật để độn với phân chuồng nên phân có chất lượng kém. Do đó, các dư thừa thực vật “không nên đốt bỏ”, mà nên giữ lại để độn ủ chung với phân chuồng vừa tăng khối lượng phân đồng thời tăng cả về chất lượng.
Tàn dư thực vật để ủ phân
Tàn dư thực vật để ủ phân

Có thể lựa chọn các cách ủ phân hữu cơ như sau:

  • Ủ nóng:

Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân được xếp thành từng lớp ở nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nén. Sau đó, tưới nước phân lên, giữ độ ẩm trong đống phân 60 - 70%. Có thể trộn thêm 1% vôi bột tính theo khối lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn. Trộn thêm 1- 2% supe lân để giữ đạm. Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân. Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân.
Sau 4 - 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 50 - 60oC. Các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh. Các loài vi sinh vật háo khí chiếm ưu thế. Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh và đạt mức cao. Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng.
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ các mầm móng sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn. Chỉ 30 - 40 ngày là ủ xong, phân ủ có thể đem sử dụng.
Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là để mất nhiều đạm.
  • Ủ nguội:

Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt. Trên mỗi lớp phân chuồng rắc 2% phân lân. Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ, rồi nén chặt. Thường đống phân được xếp với chiều rộng 2 - 3m, chiều dài tùy thuộc vào chiều dài nền đất. Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ cao 1,5 - 2,0m. Sau đó trát bùn phủ bên ngoài.
Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trường trở lên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng. Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 - 35oC. Đạm trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonát, là dạng khó phân hủy thành amôniac, nên lượng đạm bị mất giảm đi nhiều.
Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 - 6 tháng phân ủ mới dùng được. Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ủ nóng.
  • Ủ nóng trước, nguội sau:

Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay. Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5 - 6 ngày.
Khi nhiệt độ đạt 50 - 60oC tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.
Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để 5 - 6 ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50 - 60oC lại nén chặt.
Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung quanh đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: Ủ nóng cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để giữ cho đạm không bị mất.
Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một số phân khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men được cho thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt.
Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn được thời gian so với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
Tuỳ theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân mà áp dụng phương pháp ủ phân thích hợp để vừa đảm bảo có phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân.
  • Ủ phân hữu cơ vi sinh:

+ Nguyên liệu sử dụng:
Nguồn phế thải nông, lâm nghiệp và công nghiệp thực phẩm như: Rơm rạ, thân lá cây bắp (ngô), đậu phộng (lạc), đậu đỗ sau thu hoạch, cây phân xanh, bèo tây (lục bình)...; Vỏ cà phê, trấu...;
Các loại mùn: than mùn (than bùn dùng trong sản xuất phân bón), mùn: mía, cưa, giấy...
Phân gia súc, gia cầm...
Cám gạo, rỉ mật hoặc mật mía.
Chế phẩm sinh học (Men ủ): Men cái hoặc men ủ hoàn chỉnh như chế phẩm BIMA (Trichoderma), ACTIVE CLEANER (xạ khuẩn Streptomyces sp, nấm Trichoderma sp, vi khuẩn Bacillus sp), Canplus, Emuniv, SEMSR, BIO-F, BiOVAC, BiCAT, Bio EM...
Lưu ý: Đa số các loại chế phẩm sử dụng để sản xuất phân hữu cơ vi sinh hiện nay khi sử dụng tuyệt đối không rắc thêm các loại phân vô cơ hoặc vôi, vì như vậy nó sẽ tiêu diệt vi sinh vật có ích cho quá trình phân hủy.
Tuy nhiên, cũng có một số loại chế phẩm hoàn toàn có thể rắc thêm phân vô cơ hoặc vôi như BioEM... mà không ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật, đồng thời làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ khi ủ.
Cụ thể:
Lượng vôi sử dụng cho 1 tấn phân ủ từ 10 - 15 kg, phân NPK từ 5 - 10 kg hoặc đạm từ 1 - 2 kg và lân từ 5 - 10 kg.
Nguyên liệu chuẩn bị cho một đóng ủ phân hữu cơ 2,5 - 3 m3 (1 tấn phân hữu cơ vi sinh):
Phế phụ phẩm có nguồn gốc từ cây xanh: 600 - 800 kg;
Phân chuồng: 200 - 400 kg;
Chế phẩm sinh học: Đủ cho ủ 1 tấn phân.
Nước gỉ đường hoặc mật mía: 2 - 3 kg; Nếu không có nước gỉ mật hoặc mật mía thì có thể dùng các phụ phẩm vỏ quả chín, quả chuối chín nẫu... ngâm vào nước thay thế, ngâm trước khi ủ phân 2 - 3 ngày.
Cám gạo: 3 kg.
+ Chuẩn bị dụng cụ:
Bình tưới ô doa (loại bình dùng để tưới rau), cào, cuốc, xẻng, rành (rổ)…
Vật liệu để che đậy, làm mái: Có thể dùng các loại vật liệu sẵn có như bạt, bao tải, nilon...che đậy và các loại lá để làm mái tránh mưa, ánh nắng và giữ nhiệt cho đống ủ.
+ Chọn nơi ủ:
Địa điểm ủ nên thuận tiện cho việc ủ và vận chuyển sử dụng. Nền chỗ ủ bằng đất nện, lát gạch hoặc láng xi măng, nền nên bằng phẳng hoặc hơi dốc. Nếu nền bằng phẳng nên tạo rãnh xung quanh và hố gom nhỏ để tránh nước ủ phân chảy ra ngoài khi tưới quá ẩm.
Có thể ủ trong nhà kho, chuồng nuôi không còn sử dụng để tận dụng mái che.
Nếu ủ trong kho phải có thoát nước. Để ủ 1 tấn phân ủ cần diện tích nền khoảng 3 m2.
Phân hữu cơ sau khi ủ
Phân hữu cơ sau khi ủ

3.3. Bón phân vi lượng

Phân vi lượng gồm những nguyên tố hóa học như Mg, S, Fe Zn, Mn, Cu, B, Mo… các nguyên tố hóa học này tham gia vào thành phần dinh dưỡng của cây trồng với một lượng rất nhỏ đến mức người ta ít nghĩ đến vai trò và tác dụng của chúng mặc dù trên thực tế các chất vi lượng là những tác nhân quan trọng tham gia vào các quá trình sinh lý, sinh hóa của cây trồng nói chung và cây Bơ nói riêng.
Chất vi lượng bón cho Bơ thường được phối hợp dưới hình thức một loại phân bón hỗn hợp nào đấy, có thể ở dạng thô sử dụng bón lót hoặc bón thúc, cũng có thể ở dạng dung dịch sử dụng phun vào lá.
Một số loại phân bón lá phổ biến hiện nay: Composition, Fetrilon-combi, Nitropho S, Super vi lượng,...

4. Bón phân cho Bơ theo nguyên tắc đúng

4.1. Bón đúng loại phân

- Cây Bơ yêu cầu phân gì thì bón phân đó. Phân bón có nhiều loại, nhưng có 3 loại chính là đạm, lân, kali. Lưu huỳnh cũng rất cần nhưng với lượng ít hơn. Mỗi loại có chức năng riêng. Bón phân không đúng yêu cầu, không phát huy được hiệu quả còn gây hại cho cây.
- Bón đúng không những đáp ứng được yêu cầu của cây mà còn giữ được ổn định môi trường của đất.
- Ở đất chua tuyệt đối không bón những loại phân có tính axit cao quá ngưỡng và trên nền đất kiềm không bón các loại phân có tính kiềm cao quá ngưỡng.

4.2. Bón đúng nhu cầu sinh lý của cây Bơ

- Nhu cầu dinh dưỡng của cây Bơ khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển. giai đoạn sinh trưởng cần đạm hơn kali; ở thời kỳ phát triển quả lại cần kali hơn đạm. Bón đúng loại phân mà cây cần mới phát huy hiệu quả.
- Trong suốt thời kỳ sống, cây Bơ luôn luôn có nhu cầu các chất dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển, vì vậy khi bón phân nên chia ra bón nhiều lần theo quy trình và bón vào lúc cây phát triển mạnh, không bón một lúc quá nhiều. Việc bón quá nhiều phân một lúc sẽ gây ra thừa lãng phí, ô nhiễm môi trường, cây sử dụng không hết sẽ làm cho cây biến dạng dễ nhiễm bệnh, năng suất chất lượng nông sản thấp.
- Bón phân có 3 thời kỳ: bón lót trước khi trồng (hay bón hồi phục sau khi cây thu hoạch vụ trước), bón thúc (nhằm thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây, tạo chồi lá mới) và bón rước hoa, nuôi quả...

4.3. Bón đúng điều kiện đất đai

- Bón phân là hình thức bổ sung vào đất chất dinh dưỡng cho cây Bơ. Ngoài ra, còn có các vi sinh vật đất phân hủy các chất hữu cơ sẵn có hoặc cố định N từ không khí vào đất, do vậy bón phân còn có tác dụng kích thích hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất. Nhờ đó cây được tăng cường cung cấp lượng các chất dinh dưỡng cân đối hơn.
- Bón phân không những cần cho cây Bơ mà còn giúp cho vi sinh vật đất phát triển hữu hiệu hơn.

4.4. Bón đúng lúc

- Mùa vụ, nhiệt độ và thời tiết ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của phân bón. Mưa làm rửa trôi, trực di phân bón phân chảy xuống tầng đất dưới), nắng khô làm phân bón khó tan và rất dễ bốc hơi, cây không còn nhiều dinh dưỡng để phát triển, đôi khi còn gây cháy lá, hư hoa, hư quả... Vì vậy, nên bón phân cho cây Bơ lúc sáng sớm, chiều mát tránh bón vào buổi trưa, ngày mưa lớn...
- Bón đúng loại phân, bón đúng thời cơ, bón đúng đối tượng làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với hạn, thời tiết bất thường của môi trường và với sâu bệnh gây hại (ví dụ phân kali).
- Bón phân không phải lúc nào cũng để cung cấp dinh dưỡng thúc đẩy cây Bơ phát triển mà còn có trường hợp phải dùng phân để tác động hãm bớt tốc độ sinh trưởng nhằm tăng tính chịu đựng của cây trước các yếu tố xấu phát sinh.

4.5. Bón đúng phương pháp

Có 2 loại phân bón: Phân bón gốc và phân bón lá. Tùy nhu cầu phát triển của mỗi giai đoạn mà có phương pháp bón thích hợp.
Với phân bón gốc thì bón vào gốc, rạch rãnh sâu 5 - 10 cm theo hình chiếu tán lá rồi rải đều vào rãnh, lấp kín đất.
Với phân bón lá thì phun đều trên lá, nếu ướt được cả 2 mặt lá thì càng tốt.
Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây bơ - Bộ NN&PTNT
Công ty TNHH BOT và BT Quốc lộ 20 đã thi công, khắc phục xong tình trạng mất ATGT tại khu vực Trạm thu phí Liên Đầm...

Đã hoàn thành, bố trí 3 cụm vạch sơn giảm tốc, mỗi cụm 5 vạch (theo QCVN 41:2016/BGTVT) trên toàn bộ làn xe cơ giới phía trái tuyến tại các vị trí Km145+700, Km145+850, K146+000 (Ảnh: Ngọc Hùng).

Ngày 16/5, ông Lê Thành Tâm, Trưởng phòng Tổng hợp, Công ty TNHH BOT và BT Quốc lộ 20 cho biết: “Đơn vị vừa thực hiện xong công tác tăng cường bảo đảm ATGT tại Trạm thu phí Liên Đầm theo văn bản chấp thuận của Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

Theo đó, đơn vị đã dịch chuyển biển báo số 127 “Tốc độ tối đa cho phép 60km/h) từ vị trí Km 145+700 đến vị trí Km 146+800 (trái tuyến, vị trí đỉnh dốc); Bổ sung biển báo “Trạm thu phí Liên Đầm” tại lý trình Km 146+500 (trái tuyến); Bố trí 3 cụm vạch sơn giảm tốc, mỗi cụm 5 vạch (theo QCVN 41:2016/BGTVT) trên toàn bộ làn xe cơ giới phía trái tuyến tại các vị trí Km 145+700, Km 145+850, K 146+000; Điều chỉnh vạch sơn số 1.1 (vạch đơn, nét đứt, theo QCVN 41:2016/BGTVT) sang vạch sơn 1.2 (vạch đơn, nét liền) từ Km 145+600 - Km 146+000”.

“Để tiếp tục tăng cường công tác đảm bảo ATGT qua khu vực và không để xảy ra tai nạn. Công ty có đề nghị các đơn vị liên quan phối hợp, tăng cường công tác tuyên truyền, xử lý các vi vi phạm của phương tiện tham gia giao thông. Đặc biệt, các hành vi phạm về tốc độ để đảm bảo cho các phương tiện lưu thông an toàn, thông suốt”, ông Tâm cho biết thêm.



Một vụ tai nạn xảy ra tại Trạm thu phí Liên Đầm

Trước đó, sau nhiều vụ tai nạn xảy ra tại khu vực Trạm thu phí Liên Đầm, Tổng cục Đường bộ đã kiểm tra và nhận định: “Trạm thu phí Liên Đầm, hiện trạng đoạn tuyến nằm trong khu vực có nhiều đường cong liên tiếp, độ dốc dọc lớn, các phương tiện tham gia giao thông theo hướng TP Đà Lạt - TP Bảo Lộc thường di chuyển vượt quá tốc độ cho phép, một số trường hợp không làm chủ được tốc độ trước khi vào trạm thu phí nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra TNGT. Vì vậy, việc điều chỉnh, bổ sung hệ thống ATGT là cần thiết”.

Như Báo Giao thông đã phản ánh, tại khu vực Trạm thu phí BOT Liên Đầm liên tiếp xảy ra nhiều vụ TNGT. Vào tháng 6/2018, Tổ công tác liên ngành gồm: Ban ATGT tỉnh, Chi cục QLĐB 4.1, Công an huyện Di Linh, đại diện Công ty TNHH BOT&BT QL20 và đại diện Công ty CP Xây dựng đường bộ 248 - CIENCO1 tiến hành kiểm tra hiện trường và họp bàn đưa phương án sửa chữa đột xuất, tăng cường công tác đảm bảo ATGT phạm vi khu vực trạm BOT Liên Đầm.

Tổ liên ngành đã thống nhất giải pháp dịch chuyển biển báo số P.127 “Tốc độ tối đa cho phép 60km/h” từ Km 145+700 - Km 146+800 (vị trí đỉnh dốc); bổ sung biển báo “Trạm thu phí cách 1.000m tại Km 146+500 (trái tuyến); dịch chuyển biển báo đi chậm từ Km 145+600 đến vị trí Km 145+700 trái tuyến.

Ngoài ra, phải bố trí 3 cụm vạch giảm tốc, mỗi cụm 5 vạch từ Km 145+700 - Km146+000 trên toàn bộ làn xe cơ giới bên trái tuyến.

Văn Tư - Ngọc Hùng
Cách làm nông ăn xổi cuốn theo vòng luẩn quẩn trồng-chặt… khiến hàng loạt nông dân ở Tây Nguyên lâm vào tình trạng phá sản, nợ nần chồng chất.
Nông dân vỡ nợ vì ‘vàng đen’: Cầu cứu nhà nước!

Nông nghiệp, nông dân Tây Nguyên đang chìm trong khó khăn khi những ngành hàng chủ lực bị giảm sâu về giá trị. Là vùng cà phê robusta và hồ tiêu lớn nhất cả nước, thậm chí đứng nhất, nhì thế giới về năng suất và sản lượng, nhưng những sản phẩm nông nghiệp chủ lực không còn giúp được nông dân nâng cao đời sống.

Cách làm nông ăn xổi cuốn theo vòng luẩn quẩn trồng-chặt… khiến hàng loạt nông dân phá sản, nợ xấu ngân hàng lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Điều này đòi hỏi cần phải nhìn rõ thách thức, tồn tại, tạo động lực cho nông nghiệp Tây Nguyên trong giai đoạn cạnh tranh quốc tế, để ngành này cạnh tranh thành công, xác lập được vị trí tương xứng với lợi thế.


Nhiều tỷ phú nông dân ở Tây Nguyên bị phá sản.

Những chuyến xe bốc chở trụ tiêu ở vùng đất thủ phủ hồ tiêu số 1 Tây Nguyên là Chư Pứh-Chư Sê, tỉnh Gia Lai ngày càng tăng nhanh. Nhưng đó không phải là nụ cười mà là nước mắt của nông dân, bởi những trụ tiêu ấy không phải để trồng tiêu mà để bán. Một ha trụ tiêu bằng xi măng, cần đầu tư 300 triệu đồng, nay tiêu chết, dân phải nhổ trụ bán cho người xứ khác làm cọc rào, được 60 – 70 triệu đồng. Hình ảnh ấy như lời tuyên cáo những tỷ phú nông dân ở đây chính thức phá sản.

Ông Mai Liệu, ở thôn Thủy Phú, xã Ia Blứ huyện Chư Pứh cho biết, vùng hồ tiêu nổi tiếng nay hoàn toàn kiệt quệ. Những tỷ phú ngày trước, giờ nợ trên cơ nghiệp, bán đất, bán nhà, bỏ xứ đi làm thuê.

“Xóm tôi đêm đi, ngày đi. Tôi có 9 đứa con, thì 1 đứa phải bán đất, bán nhà trả ngân hàng. 2 đứa cháu ngoại học lớp 12 phải bỏ đi làm nghề, còn mấy đứa cháu nội về quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh làm thuê”, ông Liệu chia sẻ.

Tỷ phú còn phá sản thì những nông hộ triệu phú càng ngập trong nợ nần, nhiều người đã phải tản cư trốn nợ, khiến các lĩnh vực kinh tế khác ở Ia Blứ lâm vào trầm lắng.

Ông Phan Văn Linh, Chủ tịch UBND xã Ia Blứ nhận định, với khó khăn chồng chất như hiện nay, kinh tế của xã chưa biết bao giờ mới có thể vực dậy.

“Muốn vay tiếp ngân hàng thì phải không có nợ xấu, nên bà con phải đi vay lãi nóng bên ngoài. Sau 1 năm lại tăng lên biết bao nhiêu nợ nữa. 2 năm nay là nợ nần chồng chất kiểu đó. Bà con nông dân địa phương hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, không có nguồn thu thì không có tiền trả lãi”, ông Linh kể.

Chung hoàn cảnh với Chư Pưh, ở huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông, một thủ phủ hồ tiêu khác của Tây Nguyên, nông dân cũng mở mắt là thấy “bóng đen” nợ nần bao phủ.

Theo ông Nguyễn Hữu Thiện, Trưởng thôn Đắk Kual 5, xã Đắk N’Drung, huyện Đắk Song, chưa bao giờ người dân ở đây lại nợ nhiều và mất khả năng chi trả như hiện nay.

“Bây giờ bà con nợ nần ngân hàng hộ nhiều nhất là 3,5 tỷ đồng, hộ ít là 100 triệu đồng. Bây giờ bà con không có chỗ nào để trả nợ”, ông Thiện nói.


Những trụ tiêu ở Tây Nguyên nay trở thành… hàng rào.

Tây Nguyên hiện có 90.000 ha hồ tiêu, tổng chi phí đầu tư ít nhất 30.000 tỷ đồng. Khoảng 1 nửa diện tích này bước vào kinh doanh khi thị trường hồ tiêu xuống dốc không phanh, dịch bệnh lan tràn, khiến nông dân thua lỗ nặng, khó trả nợ đầu tư.

Trong 5 tỉnh Tây Nguyên, nông dân Gia Lai có mức nợ đầu tư hồ tiêu nghiêm trọng nhất. Theo thông tin UBND tỉnh cung cấp cho báo chí vào cuối tháng 3 vừa qua, nông dân hồ tiêu ở tỉnh đang nợ ngân hàng 4.300 tỷ đồng, trong đó 2.200 tỷ là nợ xấu và nợ quá hạn.

Với những bi đát của ngành hồ tiêu chiếm 2/3 sản lượng thế giới, đầu tháng 12/2018, trong một hội thảo tại TP HCM, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã phải nhấn mạnh: Từ nay cây tiêu không nên chạy theo số lượng mà phải là chất lượng.

Đáng lo là câu chuyện chạy theo số lượng, suy giảm giá trị, không phải là chuyện riêng của cây hồ tiêu mà nhiều loại nông sản khác ở Tây Nguyên. Ông Lê Viết Hùng, Tổng Giám đốc Simexco Đăk Lăk, nhà xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 Việt Nam cho biết, tình hình sản xuất-kinh doanh cà phê, nông sản chủ lực số 1 của khu vực cũng đang rất khó khăn vì giá liên tục xuống thấp. Khó khăn này cũng có nguyên nhân từ việc không kiểm soát được quy mô ngành hàng, các con số thống kê không theo kịp thực tế.

“Niên vụ vừa qua, theo thống kê của Bộ NN-PTNT, sản lượng của cả nước là 1 triệu rưỡi tấn cà phê nhân. Nhưng thực tế là vượt rất xa, phải đến 1,8 triệu tấn. Việc thống kê không chính xác đã khiến cho các hoạch định về chiến lược kinh doanh không đạt được tính thiết thực của ngành hàng”, ông Hùng cho hay.

Cùng chung lo lắng về sự suy giảm giá trị ngành hàng, ông Nguyễn Minh Đường, Giám đốc Công ty TNHH Xuất khẩu nông sản Tây Nguyên cho rằng, cứ tiếp tục tình trạng hiện nay, ngành cà phê sẽ bước sang giai đoạn khó khăn vì giảm phát.

“Giai đoạn này cà phê không có lãi nên tôi tin thời gian không xa nữa nông dân chuyển qua ngành hàng cây khác. Ngành cà phê sẽ gặp khó khăn cung ứng sản lượng cho thị trường”, ông Đường nhận định.

Chạy theo số lượng, phá vỡ quy hoạch hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn héc ta chỉ trong thời gian ngắn, là con đường dẫn tới khủng hoảng của nông nghiệp Tây Nguyên. Hay nói cách khác, chính việc Tây Nguyên nhanh chóng vươn lên vị trí dẫn đầu về năng suất và sản lượng ở một số ngành hàng, là nguyên nhân dẫn tới đổ vỡ đáng tiếc sau đó.

Thực tế này đòi hỏi phải phải nghiêm túc trả lời câu hỏi: Tại sao quy hoạch nông nghiệp ở đây luôn bị phá vỡ? Từ đó có tác động phù hợp, đưa nông nghiệp Tây Nguyên phát triển vừa linh hoạt vừa bài bản, đem lại những lợi ích thỏa đáng.

Theo Vov.vn
Ngày 14/5, Sở Y tế Lâm Đồng cho biết, ngay khi sự việc diễn ra, đã chỉ đạo các y, bác sĩ cứu chữa và chăm sóc tận tình cho 129 người phải nhập viện sau khi đi ăn tiệc ở thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, Lâm Đồng).

Gần 100 người, sau khi truyền nước, cấp cứu, sức khỏe đã ổn định. Ngành y tế cũng đang phối hợp với các đoàn kiểm tra làm rõ nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thực phẩm.


Người ngộ độc được ngành y tế chăm sóc tận tình.

Theo báo cáo của Trung tâm Y tế huyện Di Linh, trong chiều tối 12 và sáng 13/5, hàng loạt người dân sau khi đi ăn tiệc cưới nhà bà Kim Gi (thị trấn Di Linh) ồ ạt nhập viện với triệu chứng: chóng mặt, buồn nôn, nôn thốc tháo, đau đầu dữ dội... Một số trẻ nhỏ còn lả đi vì tiêu chảy. Sau khi được cấp cứu, bệnh nhân cho biết đã ăn các món gỏi tứ quý, đùi gà chiên xôi ngọt, heo rừng hấp sả, bò nhúng nước dừa, tôm nhảy và lẩu hải sản. Tất cả các món ăn này được đặt từ cơ sở nấu ăn Hoàng Vy (đường Tân Vượng, Lộc Châu, TP.Bảo Lộc, Lâm Đồng).

Cùng với cứu chữa kịp thời, Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm Lâm Đồng đã tiến hành lấy mẫu thức ăn, bệnh phẩm để tiến hành kiểm nghiệm. Theo ông Bùi Văn Độ, Chi cục trưởng Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm Lâm Đồng, sau khi tiếp nhận vụ việc, chúng tôi đã thành lập đoàn kiểm tra ngay. Khi có kết quả, đoàn kiểm tra sẽ tham mưu cơ quan chức năng tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Đây là vụ ngộ độc nghiêm trọng, số lượng người nhập viện đông. Ngoài việc lấy mẫu thức ăn, đoàn kiểm tra còn lấy mẫu bệnh phẩm các bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Y tế Di Linh để xét nghiệm làm rõ nguyên nhân.

Ông Huỳnh Hải Nam, Trưởng Phòng Y tế TP. Bảo Lộc cũng cho biết: “Cơ sở nấu ăn Hoàng Vy hoạt động 3 năm nay. Tuy nhiên, các giấy tờ liên quan vẫn chưa được hoàn thiện, không xuất trình được giấy phép hoạt động và các chứng nhận liên quan đến an toàn thực phẩm. Cơ sở từng bị ngành y tế kiểm tra nhưng rất tiếc lúc kiểm tra cơ sở không có thực phẩm lưu nên không kiểm nghiệm được. Phòng Y tế đã nhắc nhở và kiến nghị đình chỉ hoạt động nhưng cơ sở này vẫn cố tình hoạt động nên xảy ra tình trạng ngộ độc hàng loạt.

Nhiều người dân quanh cơ sở nấu ăn Hoàng Vy lo lắng: Cơ sở này cung ứng thức ăn cho địa bàn rất rộng. Nếu vấn đề an toàn không được kiểm soát chặt chẽ sợ rồi sẽ có vụ ngộ độc tương tự diễn ra.

Tin, ảnh: ĐÔNG HƯNG - NGỌC ANH
Liều caffeine gây chết người là 100 g, tương đương với việc bạn uống liên tục 1.200 tách cà phê.

Đối với nhiều người, nhâm nhi một tách cà phê gần như đã trở thành một nghi lễ quan trọng mỗi sáng trước khi bắt đầu ngày làm việc. Cà phê giúp chúng ta tỉnh táo, tập trung và làm việc hiệu suất hơn. Nhưng không thể phủ nhận, đó vẫn là một chất kích thích thần kinh ở mức độ nhẹ.

Có bao giờ bạn tự hỏi mình: Khi nào uống thêm một tách cà phê là quá liều? Như chúng ta đã biết, mối quan tâm sức khỏe chính của cà phê là hàm lượng caffeine có trong đó. Vậy chính xác thì caffeine đang làm gì với cơ thể của bạn, và tiêu thụ bao nhiêu caffeine mỗi ngày được coi là an toàn?


Uống bao nhiêu cà phê thì bị coi là quá nhiều?

Caffeine là gì?

Caffeine là một tinh thể alcaloid tự nhiên có nguồn gốc từ lá, hạt và quả của một số loại cây bao gồm cà phê và chè. Ít được biết đến hơn, caffeine cũng có trong các loại quả như yerba maté và guarana.

Các loài thực vật tạo ra caffeine nhằm mục đích tiêu diệt các loài côn trùng tấn công chúng như bọ xít, đồng thời làm phần thưởng cho các loài khác giúp chúng thụ phấn.

Tuy nhiên, con người từ lâu đã sử dụng caffeine như một chất kích thích thần kinh và tâm sinh lý nhẹ, tạo ra trạng thái tỉnh táo và tập trung tạm thời. Caffeine bây giờ đã trở thành loại thuốc thần kinh được tiêu thụ rộng rãi nhất trên thế giới.

Bạn có thể tìm thấy hợp chất này trong mọi thứ từ cà phê, nước tăng lực, sô cô la cho đến cốc trà đá vỉa hè. Ở Bắc Mỹ, khoảng 90% người trưởng thành thường xuyên tiêu thụ caffeine hàng ngày, dưới dạng này hoặc dạng khác.

"Nó giúp mọi người tỉnh táo và tập trung", Lisa Casas, một chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Iowa cho biết. Tuy nhiên, sự tăng cường mà caffeine tạo ra chỉ mang tính nhất thời. "Nó thực sự không tồn tại lâu trong cơ thể. Caffeine chỉ tồn tại khoảng hai đến ba giờ trước khi bị đào thải", Casas giải thích.

Caffeine là một tinh thể alcaloid tự nhiên có tác dụng kích thích thần kinh nhẹ
Có bao nhiêu caffeine trong cà phê và các loại thức uống?

Cà phê có thể chứa từ 60 đến 120 mg trong mỗi cốc 8 ounce (tương đương 236 ml) tùy thuộc vào cách pha. Các loại trà thì chứa ít hơn nhiều, trung bình từ 20 đến 90 mg mỗi cốc 236 ml. Nước ngọt thì có khoảng 20 đến 40 mg caffeine trong mỗi lon. Ngay cả sô cô la cũng chứa một lượng nhỏ caffeine, khoảng 6 mg trong thanh 28 g.

Mặt khác, nước tăng lực có chứa nhiều caffeine hơn bất kỳ loại đồ uống nào. Một nghiên cứu trong Báo cáo Người tiêu dùng năm 2010 cho biết, một lọ 5 Hour Energy tiêu chuẩn 57 ml chứa con số khổng lồ 207 mg caffeine.

Tương tự, mỗi lon Monster Energy 473 ml chứa khoảng 160 mg caffeine. Những lon lớn MegaMonster 709 ml chứa 240 mg. Red Bull chứa một tỷ lệ caffeine tương đương với MegaMonsters (80 mg mỗi 237 ml).

Tuy nhiên, tất cả những đồ uống này đều chưa là gì so với một loại siêu nước tăng lực có tên là 5150 Semi Sweet. Mỗi liều 30 ml loại nước tăng lực này cung cấp một lượng caffeine lên tới 475 mg, gấp 2,6 lần lượng chất kích thích bạn nhận được từ một cốc cà phê 236 ml trong Starbucks.

Có bao nhiêu caffeine trong các loại đồ uống

Vậy chúng ta nên uống bao nhiêu caffeine là đủ?

Một cuộc điều tra gần đây được công bố trong Kỷ yếu Mayo Clinic cho thấy những người dưới 55 tuổi uống nhiều hơn 28 tách cà phê mỗi tuần có tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với những người uống ít hơn thế.

Nhóm Mayo đã kiểm tra dữ liệu từ một cuộc khảo sát kéo dài hai thập kỷ từ năm 1979 đến 1998. Cuộc khảo sát được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Aerobics Dài hạn, nhằm điều tra về thói quen lối sống của gần 45.000 người trong độ tuổi trải rộng từ 20 đến 87.

"Tiêu thụ cà phê ở mức cao có thể liên quan đến tăng nguy cơ tử vong", Carl J. Lavie, tác giả nghiên cứu, một bác sĩ tim mạch đến từ Viện Tim mạch John Ochsner ở New Orleans cho biết. "Chúng tôi đã kiểm soát các yếu tố như hút thuốc và tập thể dục, nhưng chưa kiểm soát thiếu ngủ, căng thẳng cuộc sống và một số yếu tố khác có thể đóng góp một phần vào kết quả này".

"Kết quả này thật đáng kinh ngạc", Rob van Dam, Phó giáo sư phụ trách về dinh dưỡng và dịch tễ học tại Trường Y tế công cộng Harvard, nói. "Bởi vì kết quả từ các nghiên cứu đoàn hệ khác ở nam giới và phụ nữ Hoa Kỳ chỉ ra tiêu thụ cà phê có liên quan đến nguy cơ tử vong sớm thấp hơn một chút".

Nhưng nghiên cứu của Mayo có thể được hỗ trợ bởi một nghiên cứu khác công bố gần đây trên Tạp chí Y học New England, cho thấy: Trong 14 năm theo dõi, những người uống cà phê hàng ngày đã có nguy cơ tử vong thấp hơn so với những người không uống. Nhưng đáng tiếc, tác dụng này giảm dần so với lượng cà phê mà họ uống, nghĩa là uống càng nhiều cà phê thì lợi ích kéo dài tuổi thọ càng giảm.


Liều caffeine gây chết người là 100 g, tương đương với việc bạn uống liên tục 1.200 tách cà phê.

Vì caffeine có thể ảnh hưởng đến mọi người khác nhau tùy thuộc vào giới tính, tuổi tác, khối lượng cơ thể, tốc độ trao đổi chất và độ nhạy cảm với chất kích thích, không có giới hạn cứng về lượng caffeine mà một người nên uống trong một ngày.

Liều caffeine gây chết người là 100 g. Không phải miligam mà là gam, nó tương đương với việc bạn uống liên tục 1.200 tách cà phê. Tiêu thụ caffeine xung quanh con số 100 g có thể gây tử vong cho hầu hết mọi người, bất kể khả năng chịu đựng của họ tới đâu đi chăng nữa.

FDA khuyến cáo rằng những người bị huyết áp cao, bệnh tim và phụ nữ mang thai nên giảm mức tiêu thụ caffeine xuống mức tối thiểu. Đối với những người trên 55 tuổi, các nghiên cứu khuyến cáo chỉ nên uống ít hơn 4 tách cà phê mỗi ngày.

Thế còn với những đối tượng còn lại thì sao, bạn có thể đang còn trẻ và khỏe, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng mức tiêu thụ vừa phải từ 200 đến 400 mg mỗi ngày. Nói chung, caffeine không gây hại lâu dài cho người trưởng thành khỏe mạnh.

Tuy nhiên, ở mức hơn 600 mg mỗi ngày, tương đương với khoảng 7 tách cà phê, bạn có thể sẽ phải chịu đựng những tác dụng phụ gây ra bởi caffeine.

Tùy theo cơ địa, nhiều người có thể uống được ít cà phê hơn. Nếu bạn thuộc nhóm dễ bị say cà phê, hoặc phải chịu một trong số những tác dụng phụ sớm dưới đây, lời khuyên là hãy đặt cốc cà phê của bạn xuống:

- Mất ngủ

- Kích thích thần kinh

- Bồn chồn

- Dễ cáu gắt

- Đau dạ dày hoặc ợ nóng

- Tim đập loạn nhịp

- Run cơ hoặc co giật

Nếu những triệu chứng này kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên, hãy hỏi ý kiến bác sĩ của bạn. Một lựa chọn thay thế cho bạn lúc này, là uống các loại cà phê không có caffeine.

Tham khảo Gizmodo


Các nhà khoa học vừa tìm ra những nguyên nhân cho thấy sở thích uống cà phê ở nhiều người thực tế không hề liên quan đến mùi vị.

Phát hiện này được cho có thể dẫn đến một cách tiếp cận mới trong việc chống lại bệnh béo phì và lạm dụng rượu.

Sở thích uống cà phê được cho không liên quan đến vấn đề “vị giác”.

Nó cũng làm sáng tỏ lý do tại sao một số người trong chúng ta có thể uống một tách cà phê trước khi đi ngủ và ngủ ngon lành khi những người khác không thể.

Tiến sĩ Marilyn Cornelis và các đồng nghiệp đã lập bản đồ DNA hoàn chỉnh của 336.000 cá nhân từ Vương quốc Anh, đây là một cuộc khảo sát dài theo dõi sức khỏe của khoảng nửa triệu người Anh.

Thật ngạc nhiên, kết quả các nhà khoa học tìm ra đó là các cá nhân không thích cà phê, rượu hoặc đồ uống ngọt không dựa trên các biến thể gene vị giác mà là những yếu tố liên quan đến đặc tính "tâm sinh lý".

Những chất như caffeine trong cà phê và đồ uống có ga, tác động lên hệ thần kinh trung ương. Điều này làm thay đổi chức năng não dẫn đến những thay đổi tạm thời về nhận thức, tâm trạng, ý thức và hành vi.

Tiến sĩ Cornelis cho biết: "Chúng tôi phát hiện có mỗi liên quan đến các thành phần tâm sinh lý của những đồ uống này. Mọi người thích cách cà phê và rượu làm cho họ có cảm giác. Đó là lý do tại sao họ uống nó. Đó không phải là hương vị”.

Phát hiện này bổ sung kiến ​​thức về mối liên hệ giữa di truyền và sở thích tiêu thụ đồ uống. Đồ uống có đường có liên quan đến một loạt các tình trạng bệnh và sức khỏe. Trong khi đó, uống rượu có liên quan đến hơn 200 bệnh, chiếm khoảng 6% người tử vong trên toàn cầu.

Theo Dantri
Theo Sở GTVT tỉnh Lâm Đồng, Bộ GTVT đã có thông tin chính thức về việc triển khai thực hiện dự án xây dựng đường cao tốc Đồng Nai-Lâm Đồng trong năm nay. Với tổng chiều dài hơn 200km bắt đầu tại nút Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và kết thúc tại chân đèo Prenn, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.


Dự án có tổng vốn đầu tư 65.000 tỷ đồng được huy động từ 2 hình thức BOT và nguồn vốn từ cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (bao gồm cả chi phí giải tỏa mặt bằng) cho địa bàn 2 tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng.

Dự án có tổng chiều dài hơn 200 km, được Bộ GTVT bàn bạc và thống nhất triển khai thành 3 giai đoạn đầu tư và xây dựng: Dầu Giây - Tân Phú; Tân Phú - Bảo Lộc và Bảo Lộc - Liên Khương.

Giai đoạn 1: Đoạn Dầu Giây - Tân Phú chiều dài khoảng 60 km đi qua địa bàn của 4 huyện với tổng diện tích sử dụng đất 460ha bao gồm: huyện Thống Nhất (64 ha), huyện Xuân Lộc (16 ha), huyện Ðịnh Quán (160 ha) và nhiều nhất là huyện Tân Phú (220 ha).

Với nguồn vốn giai đoạn này gần 7000 tỷ đồng theo hình thức lựa chọn BOT. Theo Ban Quản Lý dự án Thăng Long (trực thuộc bộ giao thông vận tải) truyến Dầu Giây - Tân Phú sẽ được ưu tiên khởi công 2019 và đưa vào sử dụng trước 2021 bởi đây là tuyến đường thiết yếu kết nối giao thông 3 khu vực bao gồm: Vũng Tàu, Đồng Nai và TP.HCM

Giai đoạn 2: Tiếp nối từ Tân Phú - Bảo Lộc với chiều dài 66km dự án đi qua 2 tỉnh Đồng Nai- Lâm Đồng, với tổng kinh phí xây dựng lên đến 17.000 tỷ đồng theo hình thức vay vốn từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) theo chỉ đạo từ Bộ giao thông vận tải.

Giai đoạn 3: Là đoạn cuối cùng của chuỗi cao tốc, được bắt đầu từ thành phố Bảo Lộc - Liên Khương có tổng chiều dài 73km với tổng tiền đầu tư hơn 13.000 tỷ đồng, trong đó 3.000 tỷ là từ tiền hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước.

Theo đơn vị tư vấn và thiết kế dự án, công việc giải phóng mặt bằng và các thủ tục liên quan cần phải được triển khai song song và nhanh chóng thì mới đảm bảo được tiến độ cho dự án. Đơn vị này cũng cam kết sẽ nhanh chóng chuyển thông tin hướng tuyến của dự án, phạm vi giải phóng mặt bằng cho 2 tỉnh cũng như 4 địa phương của giai đoạn 1 gồm: Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán và Tân Phú để cập nhật vào quy hoạch sử dụng đất, từ đó có thể lên phương án giải phóng mặt bằng sớm nhất.

Đường cao tốc Đồng Nai – Lâm Đồng là dự án giao thông nằm trong quy hoạch phát triển chung của mạng lưới đường cao tốc Việt Nam đến năm 2020. Sau khi đi vào hoạt động chính thức hệ thống cao tốc toàn tuyến sẽ có 4 làn xe theo tiêu chuẩn đường cao tốc loại A, vận tốc thiết kế lên đến 100km/h.

Cao tốc Dầu Giây – Liên Khương hoàn thiện sẽ trở thành tuyến đường có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vừa giảm tải cho Quốc lộ 20, đồng thời kết nối hoàn chỉnh, đồng bộ với hệ thống mạng lưới đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây (hệ thống cao tốc xuyên Việt).

Dự kiến, thời gian di chuyển từ TP.HCM lên Bảo Lộc chỉ còn khoảng 2h và từ Đà Lạt xuống Bảo Lộc cũng chỉ mất 1h đồng hồ, giảm một nữa thời gian so với di chuyển trên Quốc lộ 20 như hiện nay. Tuyến cao tốc là động lực phát triển kinh tế cho 2 vùng kinh tế: Đông Nam bộ và Tây Nguyên.

Khi dự án đi vào khai thác sẽ có vai trò lớn giúp kết nối giao thông vùng, tạo lợi thế phát triển cho ngành du lịch địa phương, thúc đẩy tam giác du lịch, trao đổi kinh tế với các thành phố lớn như Nha Trang – Đà Lạt – Tp. Hồ Chí Minh, kết nối giao thông thuận tiện với các tỉnh Đông Nam bộ và các tỉnh Tây Nguyên.
Theo TTDN